Một số nội dung lưu ý về hợp đồng đặt cọc mua bán nhà: - Đặt cọc cũng là một giao dịch dân sự, không phải là một phần của hợp đồng mua bán nhà ở nên không phải cứ hợp đồng mua bán nhà ở vô hiệu thì đặt cọc vô hiệu. - Đặt cọc có hiệu lực khi đảm bảo đủ các điều kiện quy định tại Theo quy định của luật Kinh doanh bất động sản, nghị định 71/2010/NĐ-CP và thông tư số 13/2008/ TT-BXD, khi chủ đầu tư bán nhà, bắt buộc phải bán thông qua sàn giao dịch bất động sản (trừ trường hợp bán nhà cho người đã có hợp đồng góp vốn mà bên góp vốn được phân chia sản phẩm là nhà như đã nói ở Khi ký kết hợp đồng mua bạn sẽ phải đặt cọc trước 300 triệu để đảm bảo trong vòng 1 tuần kể từ ngày ký hợp đồng và cọc, bạn phải giao đủ 2 tỷ đồng cho bên B. Trong trường hợp này, việc đặt cọc là để đảm bảo nghĩa vụ của 2 bên khi mua bán bất động sản sẽ được thực hiện như hợp đồng đã ký kết. 2/ Đảm bảo 4 cam kết sau trước khi ký hợp đồng 12 triệu/tháng 11 Cho thuê nhà kdc hiệp thành 3 thích hợp mở cty .ở 100 m² - 7 PN 20 triệu/tháng 3 Cho thuê nhà 2 mặt tiền 80 m² - 6 PN 50 triệu/tháng 8 CHO THUÊ NHÀ NC 7X18M HTX 4PN 19TRIỆU KDC BÌNH LỢI 126 m² - 4 PN 19 triệu/tháng 3 CHO THUÊ NHÀ NGUYÊN CĂN.THẠNH MỸ LỢI.Quận 2 103 m² - 4 PN 17 triệu/tháng 3 Bộ luật Dân sự năm 2015 không nêu rõ quy định hợp đồng đặt cọc bắt buộc công chứng hoặc được cơ quan có thẩm quyền chứng thực trong hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với diện tích đất. Tuy nhiên, để tránh xảy ra tranh chấp hoặc các rủi ro khác thì hai bên nên công chứng hoặc chứng thực giấy tờ. Tiền đặt cọc; Giá thuê hàng tháng sự thỏa thuận bằng miệng hoàn toàn không có giá trị về mặt pháp lý nếu xảy ra tranh chấp bởi vậy bạn cần chú ý kỹ trong hợp đồng có ghi rõ chủ nhà sẽ hoàn trả toàn bộ tiền cọc cho bạn khi hết hạn hợp đồng hay không và XtcIXq. TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINHBẢN ÁN 1011/2019/DS-PT NGÀY 11/11/2019 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG THUÊ NHÀ Ngày 11 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 417/DSPT ngày 05/9/2019 về việc “Tranh chấp hợp đồng thuê nhà”.Do bản án dân sự sơ thẩm số 228/2019/DSST ngày 09/7/2019 của Tòa án nhân dân Quận R, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4372/2019/QĐPT-DS ngày 23 tháng 9 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 8499/2019/QĐPT-DS ngày 21/10/2019 giữa các đương sự*Nguyên đơn Ông Phan Văn Q, sinh năm 1967 Địa chỉ Số 182/4 đường A, Phường L, quận X, Thành phố Hồ Chí đại diện hợp pháp của nguyên đơn1. Ông Nguyễn R, sinh năm 1985 – đại diện theo ủy chỉ Số 519/2/9 đường S, Phường O, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh có mặt.2. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1983 – đại diện theo uỷ quyền. Địa chỉ Ấp P, xã M, huyện V, tỉnh E.Theo Văn bản ủy quyền số 018587 ngày 25/10/2019.*Bị đơn Bà Trần Thị Y, sinh năm chỉ Số 152E, đường D, phường P, quận B, Thành phố Hà đại diện hợp pháp của bị đơn ông Nguyễn Xuân U, sinh năm 1976. Địa chỉ Phòng lầu 2, toà nhà X, số 38 đường G, phường M, quận N, Thành phố Hồ Chí Minh.Theo văn bản uỷ quyền số 003230, quyển số 02/TP/CC-SCC/UQ, ngày 21/8/2019Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn Ông Ngô Trọng I – Luật sư thuộc Đoàn Luật sư tỉnh S.*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Vũ Đình O, sinh năm 1979 Địa chỉ Số 155/11 đường H, phường K, Quận Q, Thành phố Hồ Chí đại diện hợp pháp Ông Nguyễn Xuân U, sinh năm 1976 – đại diện theo ủy quyền Văn bản ủy quyền số 09002631 ngày 16/3/2016.Địa chỉ Số 16, đường K, phường I, quận E, Thành phố Hồ Chí Ông Nguyễn Bá P, sinh năm 1984Địa chỉ Số 194/17 đường A, Phường L, quận X, Thành phố Hồ Chí đại diện hợp pháp Ông Nguyễn Xuân U, sinh năm 1976 – đại diện theo ủy quyền Văn bản ủy quyền số 09002630 ngày 16/3/2016.Địa chỉ Số 16, đường K, phường I, quận E, Thành phố Hồ Chí Minh. Người kháng cáo Bị đơn bà Trần Thị DUNG VỤ ÁN* Trong đơn khởi kiện đề ngày 08/6/2015 và quá trình chuẩn bị xét xử người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Phan Văn Q trình bàyÔng Phan Văn Q là chủ sở hữu căn nhà tại địa chỉ số 39 đường L, phường U, Quận R, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 981280, số vào sổ cấp GCN H 02039 do Ủy ban nhân dân Quận R, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho ông Võ Văn A và bà Tăng Thị S ngày 03/10/2006; ông Phan Văn Q nhận chuyển nhượng theo Hợp đồng số 9620 tại Phòng công chứng E ngày 25/4/2008, cập nhật thay đổi chủ sở hữu ngày 23/5/2008. Đồng thời, ông Phan Văn Q là người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH Một thành viên Khách sạn N, trụ sở chính Số 39, đường L, phường U, Quận R, Thành phố Hồ Chí Minh với ngành nghề kinh doanh khách 28/8/2013, ông Phan Văn Q và bà Trần Thị Y có ký Hợp đồng thuê khách sạn và tài sản tại địa chỉ số 39, đường L, phường U, Quận R, Thành phố Hồ Chí Minh. Theo nội dung hợp đồng, ông Q cho bà Y thuê toàn bộ diện tích nhà đất số 39 đường L, phường U, Quận R, Thành phố Hồ Chí Minh để kinh doanh trong lĩnh vực khách sạn với thời hạn thuê 05 năm từ ngày 10/9/2013 đến ngày 09/9/2018, giá thuê từ ngày 10/9/2013 đến 09/9/2014 là đồng/tháng, từ ngày 10/9/2014 đến 09/9/2015 là từ ngày 10/9/2015 đến 09/9/2018 là USD/tháng, thanh toán bằng đồng Việt Nam. Do căn nhà cho thuê ông Q đang thế chấp vay ngân hàng tại thời điểm các bên lập hợp đồng thuê khách sạn và tài sản do đó các bên chỉ lập hợp đồng tay mà không công chứng. Cùng ngày, bà Y cũng đã đặt cọc cho ông Q số tiền đồng để đảm bảo cho hợp đồng thuê. Tuy nhiên, cũng vì lý do trên mà hai bên không thể lập hợp đồng đặt cọc tại công chứng nên mới lập Hợp đồng vay số tiền trên tại Phòng công chứng Q cho bà Y thuê nhà với tư cách cá nhân nhưng do ông Q đã đăng ký kinh doanh khách sạn và được Sở kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty TNHH Một thành viên Khách sạn N do ông Q là đại diện theo pháp luật do đó ông Q cho bà Y thuê nhà đồng thời cho bà Y mượn giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp để kinh doanh khách trình thực hiện hợp đồng, bà Y chỉ trả cho ông Q được 01 tháng tiền thuê nhà đồng rồi không tiếp tục trả nữa. Mặc dù nguyên đơn đã nhiều lần liên hệ nhưng bà Y vẫn không thanh toán tiền thuê như hợp đồng hai bên đã thỏa thuận. Mặt khác, ông Q phát hiện bà Y không trực tiếp điều hành việc kinh doanh tại địa điểm kinh doanh mà giao cho người khác quản lý. Đồng thời, bà Y đã tự ý giao Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho ông Nguyễn Bá P và ông P đã làm giả hồ sơ đề nghị Sở kế hoạch đầu tư thay đổi người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH Một thành viên Khách sạn N thành ông Nguyễn Bá P. Căn cứ tố cáo và đề nghị của ông Q, Sở kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành kiểm tra rà soát, sau khi có kết luận của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an Thành phố Hồ Chí Minh xác định chữ kí của ông Q trong hồ sơ đăng ký thay đổi doanh nghiệp là giả, đã thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần thứ 5 người đại diện theo pháp luật ông Nguyễn Bá P và phục hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần thứ 4 người đại diện theo pháp luật ông Phan Văn Q.Ngoài ra, quá trình bà Y thuê nhà, bà Y đã để cho đối tượng Nguyễn Tiến D thực hiện hành vi “Kinh doanh trái phép” tại địa chỉ thuê, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận R đã ra Quyết định khởi tố bị can và truy nã để xử 10/8/2016 bà Y, ông O và ông P mới chính thức ra khỏi nhà số 39 đường L, Quận R, bàn giao lại nhà cho ông Q trông coi, quản phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn yêu cầu tuyên bố Hợp đồng thuê khách sạn và tài sản ngày 28/8/2013 giữa nguyên đơn và bị đơn là vô hiệu; Buộc bị đơn trả tiền thuê nhà còn thiếu từ ngày 10/9/2013 đến ngày 10/8/2016 sau khi đã cấn trừ đồng tiền cọc và 01 tháng tiền thuê đồng bà Y đã trả là đồng. Thanh toán một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật. Nguyên đơn tự nguyện chịu lệ phí thẩm định giá tài sản đã nộp ra, nguyên đơn yêu cầu Tòa án duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời “Cấm thực hiện hành vi xuất cảnh ra nước ngoài” đối với bà Trần Thị Y theo Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 69/2016/QĐ-BPKCTT ngày 05/9/2016 của Tòa án nhân dân Quận R để đảm bảo thi hành án.* Bị đơn bà Trần Thị Y trình bàyBà xác nhận bà và ông Phan Văn Q có ký kết Hợp đồng thuê khách sạn và tài sản ngày 28/8/2013 tại địa chỉ số 39 đường L, phường U, Quận R, Thành phố Hồ Chí Minh và bà đã trả trước tiền thuê một tháng là đồng. Hình thức và số tiền đặt cọc để đảm bảo cho hợp đồng thuê đồng như nguyên đơn trình bày là đúng. Sau đó, do bà thường xuyên đi công tác tại nước ngoài không có thời gian quản lý khách sạn nên vào ngày 01/10/2013 bà đã bàn giao toàn bộ khách sạn lại cho ông Nguyễn Bá P và Vũ Đình O quản lý, bà chỉ lập giấy ủy quyền cho ông P và ông O. Ngày 24/11/2013 bà và người đại diện có bàn bạc với nguyên đơn yêu cầu giảm tiền thuê xuống còn đồng/tháng nhưng nguyên đơn không chấp nhận và yêu cầu thanh lý hợp đồng. Từ ngày 24/11/2013 ông Q đã gây khó khăn nên việc kinh doanh gặp nhiều trở ngại phải báo cho chính quyền địa phương và niêm phong, không O hành kinh doanh được trình chuẩn bị xét xử, bị đơn đồng ý chấm dứt hợp đồng thuê nhà với nguyên đơn và chỉ đồng ý trả cho nguyên đơn 02 tháng tiền thuê nhà và cấn trừ vào số tiền đặt cọc bị đơn đã đưa nên số tiền cọc nguyên đơn phải trả cho bị đơn là đồng. Yêu cầu này chưa được Tòa án cho đóng tiền tạm ứng án phí và thụ lý giải quyết. Tuy nhiên, tại phiên tòa bị đơn rút yêu cầu trên, không yêu cầu Tòa án tạm ngừng phiên tòa để thụ lý giải quyết và trên tinh thần thiện chí giải quyết vụ án, bị đơn đồng ý cấn trừ hết số tiền đã đặt cọc đồng trả tiền thuê nhà còn thiếu cho ông Q để chấm dứt hợp đồng đã ký. Nếu nguyên đơn không đồng ý thì bà đồng ý chấm dứt hợp đồng nhưng không đồng ý trả số tiền thuê nhà còn thiếu đồng như yêu cầu của nguyên đơn.* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Vũ Đình O, ông Nguyễn Bá P do người đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Xuân U trình bàyNgày 28/8/2013 bà Trần Thị Y đã ký Hợp đồng thuê khách sạn và tài sản tại địa chỉ 39 đường L, phường U, Quận R, Thành phố Hồ Chí Minh với ông Phan Văn Q. Hợp đồng thuê nhà giữa ông Q và bà Y có thời hạn 05 năm, bắt đầu từ ngày 10/9/2013 đến ngày 09/9/ khi thuê, bà Y có nhu cầu cùng hợp tác kinh doanh với ông O và ông P nên vào ngày 05/8/2013 giữa bà Y và ông O, ông P đã lập thỏa thuận hợp tác với nội dung chính các bên đồng ý cùng hợp tác đầu tư kinh doanh khách sạn và cử ông P điều hành hoạt động kinh doanh, tiền thuê nhà sẽ được trích từ doanh thu hàng tháng và giao cho bà Y trả tiền thuê nhà cho ông thời gian thuê nhà, bà Y và ông O, ông P không vi phạm nghĩa vụ của bên thuê và đã tôn trọng thỏa thuận theo Hợp đồng các bên đã ký kết. Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty TNHH Một thành viên Khách sạn N do ông Nguyễn Bá P đứng tên làm đại diện theo pháp luật bị thu hồi do lỗi của nguyên đơn và quá trình kinh doanh thực tế do bị cơ quan chức năng kiểm tra và xử phạt do đó bà Y, ông P và ông O không hoạt động kinh doanh được. ông O cũng đã đề nghị thừa phát lại lập vi bằng về việc tạm ngưng kinh doanh từ ngày 19 tháng 12 năm 2015. Quá trình giải quyết vụ án, ông O và ông P có đưa ra yêu cầu ông Q bồi thường thiệt hại chi phí đầu tư kinh doanh. Tuy nhiên, sau khi Tòa án giao thông báo tạm nộp án phí, xét thấy chưa cần thiết nên ông O và ông P không yêu cầu Tòa án giải quyết yêu cầu trên nữa, có tranh chấp sẽ khởi kiện bằng vụ án khác. Đối với yêu cầu của nguyên đơn đối với bị đơn, ông O và ông P không có ý kiến gì. Ông O và ông P cũng xác nhận ngày 10/8/2016 chính thức dọn ra khỏi nhà 39 đường L, phường U, Quận R, giao nhà lại cho nguyên đơn quản lý sử bản án dân sự sơ thẩm số 228/2019/DS-ST ngày 09/7/2019 của Tòa án nhân dân Quận R đã tuyênCăn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm g khoản 1 Điều 40; 195; 200; 202; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;Căn cứ vào các Điều 127; 134; 137; 492 Bộ luật Dân sự năm 2005; Căn cứ khoản 3 Điều 93 Luật nhà ở năm 2005;Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án;Căn cứ Luật thi hành án dân sự nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơnTuyên bố Hợp đồng thuê khách sạn và tài sản ngày 28 tháng 8 năm 2013 giữa ông Phan Văn Q và bà Trần Thị Y là vô bị đơn bà Trần Thị Y có trách nhiệm trả cho nguyên đơn ông Phan Văn Q số tiền thuê nhà còn thiếu là đồng ngay khi án có hiệu lực pháp bên thi hành dưới sự giám sát của cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời áp dụng tại Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 69/2016/QĐ-BPKCTT ngày 05 tháng 9 năm 2016 của Tòa án nhân dân Quận R để đảm bảo thi hành ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo của các đương 22/7/2019, bị đơn bà Trần Thị Y kháng cáo yêu cầu huỷ toàn bộ Bản án số 228/2019/DS-ST ngày 09/7/2019 của Tòa án nhân dân Quận R, Thành phố Hồ Chí phiên tòa phúc thẩmNguyên đơn không rút đơn khởi đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo đề nghị huỷ toàn bộ bản án sơ thẩm để xét xử lại vì cho rằng bị đơn không có lỗi trong việc hợp đồng thuê nhà bi vô hiệu và Toà án cấp sơ thẩm đã áp dụng sai quy định của pháp có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu kháng bên đương sự không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiếnVề hình thức Đơn kháng cáo của các đương sự làm trong hạn luật định nên hợp lệ, đề nghị Tòa án chấp nhận. Hội đồng xét xử và những người tham gia phiên tòa chấp hành đúng quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc nội dung Hợp đồng thuê nhà ngày 28/8/2013 ký kết giữa các đương sự đã vi phạm về hình thức do không có công chứng, chứng thực. Do đó hơp đồng nói trên bị vô hiệu. Lỗi do cả hai bên nên không phát sinh trách nhiệm bồi thường. Thực tế sau khi thuê nhà bà Y đã nhận nhà và đến ngày 10/8/2016 mới trả lại nhà cho nguyên đơn, do đó bà Y vẫn phải có trách nhiệm trả tiền thuê nhà theo thoả thuận của các bên. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ ĐỊNH CỦA TÒA ÁNSau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận và sau khi nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định[1] Về hình thức và thời hạn kháng cáo Ngày 09/7/2019, Toà án nhân dân Quận R xét xử và ban hành Bản án số 228/2019/DS-ST. Ngày 22/7/2019 bị đơn có đơn kháng cáo đề nghị huỷ bản án sơ thẩm. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 273 Bộ Luật tố tụng dân sự 2015 thì kháng cáo của bị đơn còn trong hạn luật định và hợp lệ.[2] Xét nội dung kháng cáo của bị đơn yêu cầu huỷ toàn bộ bản án sơ thẩm, Hội đồng xét xử nhận thấy [ Về tố tụngVề thẩm quyền giải quyết vụ án của Toà án cấp sơ thẩm Nguyên đơn lựa chọn Tòa án nhân dân Quận R là nơi các bên thực hiện hợp đồng. Bị đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn cho rằng bị đơn là người nước ngoài, không còn quốc tịch Việt Nam, không cư trú tại Việt Nam tại thời điểm Tòa án nhân dân Quận R thụ lý vụ án và cư trú thường xuyên tại nước ngoài do đó vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận R mà thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ vào hợp đồng thuê nhà và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện bị đơn bà Trần Thị Y có địa chỉ tại 152E đường D, phường P, quận B, Thành phố Hà Nội. Bà Y được đại sứ quán Việt Nam tại Ba Lan cấp hộ chiếu số N1580089 do Đại sứ quán Việt Nam tại Ba Lan cấp ngày 28/3/2012. Hộ chiếu nêu trên được cơ quan có thẩm quyền cấp cho người có quốc tịch Việt Nam; Căn cứ Công văn cung cấp thông tin xuất nhập cảnh số 2219 CV/QLXNC- P4 ngày 10 tháng 8 năm 2016 của Cục quản lý xuất nhập cảnh – Bộ Công an xác định bà Y dùng hộ chiếu N1580089 xuất nhập cảnh Việt Nam nhiều lần và tại thời điểm Tòa án nhân dân Quận R thụ lý vụ án 02/11/2015 bà Y đã nhập cảnh Việt Nam từ ngày 18/7/2015 và sau đó ngày 29/11/2015 mới xuất cảnh. Sau đó bà Y tiếp tục nhập cảnh, xuất cảnh nhiều lần. Quá trình Tòa án nhân dân Quận R giải quyết vụ án, bà Y có trực tiếp tham gia tố tụng, uỷ quyền cho người đại diện là ông Ngô Trọng I tham gia tố tụng, trình bày ý kiến thưc hiện đầy đủ quyền và nghĩa tố tụng của minh. Do đó Toà án nhân dân Quận R thụ lý, giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm g khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự là đúng thẩm quyền.[ Về nội dung[ Đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc tuyên bố hợp đồng thuê nhà vô hiệuNgày 28 tháng 8 năm 2013 ông Phan Văn Q và bà Trần Thị Y kí Hợp đồng thuê khách sạn và tài sản không công chứng, chứng thực có nội dung chính ông Q cho bà Y thuê toàn bộ diện tích nhà đất số 39 đường L, phường U, Quận R, Thành phố Hồ Chí Minh. Để đảm bảo cho hợp đồng thuê nói trên, bà Y đặt cọc cho ông Q đồng thông qua hình thức bà Y cho ông Q vay theo hợp đồng vay tiền có công chứng. Việc đặt cọc và số tiền cọc dưới hình thức hợp đồng vay tiền đã được hai bên thừa đồng các bên đã giao kết bản chất là hợp đồng thuê nhà có thời hạn trên 6 tháng nhưng các bên đã không tuân thủ về hình thức, không công chứng hoặc chứng thực và không đăng ký theo quy định tại Điều 492 Bộ luật Dân sự năm 2005 và khoản 3 Điều 93 Luật nhà ở năm 2005. Do vậy Toà án cấp sơ thẩm xác định hợp đồng các bên giao kết bị vô hiệu ngay từ thời điểm giao kết do vi phạm về hình thức theo quy định tại các Điều 127; Điều 134 Bộ luật Dân sự 2005 là có cơ sở. Lỗi trong việc làm cho hợp đồng vô hiệu thuộc về cả hai bên đương sự do vậy không làm phát sinh trách nhiệm bồi thường. Toà án cấp sơ thẩm cũng đã giải thích về giao dịch dân sự vô hiệu, không đương sự nào có yêu cầu bồi thường thiệt hại, giải quyết hậu quả pháp lý phát sinh khi hợp đồng dân sự vô hiệu theo quy định tại Điều 137 Bộ luật Dân sự 2005.[ Đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả tiền thuê nhà còn thiếuDo giao dịch dân sự bị vô hiệu nên các bên có nghĩa vụ hoàn trả cho nhau những gì đã nhận tuy nhiên sau khi giao kết hợp đồng thuê, bị đơn bà Y đã nhận nhà và thực tế sử dụng do đó bà Y phải có nghĩa vụ trả tiền thuê cho nguyên đơn trong thời gian đã sử dụng cho đến khi giao trả nhà lại cho nguyên đơn. Bà Y xác nhận đã cùng ông O, ông P ký kết hợp tác kinh doanh tại số 39 đường L, Quận R. Việc kinh doanh các bên đồng ý giao cho ông P quản lý, tiền thuê nhà do bà Y đại diện trả cho ông Q tuy nhiên bà Y vi phạm nghĩa vụ trả tiền thuê nhà. Việc ông P và ông O sử dụng nhà của ông Q để kinh doanh là thông qua quyền sử dụng nhà thuê của bà Y đối với ông Q do đó bà Y vẫn phải có nghĩa vụ trả tiền thuê nhà theo nội dung các bên đã thỏa thuận hợp tác. Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả tiền thuê nhà theo thời gian thực tế bị đơn quản lý, sử dụng là có cơ bên đương sự đều xác nhận mặc dù ngày 05/01/2017 Tòa án nhân dân Quận R mới ban hành Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 03/2017/QĐ-BPKCTT có nội dung giao cho ông Phan Văn Q được quyền quản lý và giữ nguyên hiện trạng căn nhà 39 đường L, phường U, Quận R, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng thực tế ngày 10/8/2016 bà Y, ông O và ông P giao trả lại nhà cho ông Q quản lý sử dụng. Do đó Toà án cấp sơ thẩm xác định bà Y có trách nhiệm trả tiền thuê nhà còn thiếu cho ông Q từ ngày 10/9/2013 đến hết ngày 10/8/2016 35 tháng sau khi cấn trừ đi số tiền đặt cọc đồng và 01 tháng tiền thuê bà Y đã trả đồng và ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn chỉ yêu cầu trả tiền thuê nhà theo giá thuê đồng/tháng là có cơ sở. Số tiền bị đơn phải trả cho nguyên đơn cụ thể như sau đồng x 35 tháng – đồng + đồng = người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông O và ông P không có yêu cầu độc lập trong vụ án nên tranh chấp liên quan đến việc hợp tác đầu tư giữa bà Y, ông O và ông P sẽ được giải quyết bằng vụ kiện khác khi có yêu cầu.[ Vụ án Dân sự sơ thẩm thụ lý ngày 02/11/2015, khi xét xử Toà án căn cứ Pháp lệnh án phí, lệ phí Toà án năm 2009 để tính án phí. Toà án cấp sơ thẩm tuyên căn cứ Nghị quyết 326/2016 UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, tuy nhiên số tiền án phí sơ thẩm mà đương sự phải chịu đã được tính đúng theo cách tính của pháp lệnh án phí, lệ phí Toà án nên Hội đồng xét xử nhận thấy sự nhầm lẫn này không ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự và không làm thay đổi nội dung vụ án nên kiến nghị Toà án cấp sơ thẩm rút kinh nghiệm.[3] Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự không bổ sung thêm tài liệu, chứng cứ khác; Xét Toà án cấp sơ thẩm đã điều tra, xác minh đầy đủ, viện dẫn các quy định của pháp luật để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có sơ đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy yêu cầu kháng cáo của bị đơn về việc huỷ toàn bộ bản án sơ thẩm là không có cơ sở chấp nhận.[4] Về án phí.Án phí Dân sự sơ thẩm Căn cứ Pháp lệnh án phí, lệ phí Toà án bị đơn bà Trần Thị Y phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch đồng và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là đồng. Ông Phan Văn Q không phải chịu án phí Dân sự phúc thẩm Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016 UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, do kháng cáo của bị đơn không được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.[5] Về các chi phí tố tụng khác Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn chịu toàn bộ số tiền tạm ứng lệ phí thẩm định giá tài sản đã nộp là các lẽ trên, QUYẾT ĐỊNH- Căn cứ khoản 1 Điều 308; khoản 1 Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;- Căn cứ vào các Điều 127; 134; 137; 492 Bộ luật Dân sự năm 2005;- Căn cứ khoản 3 Điều 93 Luật nhà ở năm 2005;- Căn cứ pháp lệnh án phí, lệ phí Toà án và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án;- Căn cứ Luật thi hành án dân sự 2008. Tuyên xử1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 228/2019/DSST ngày 09/7/2019 của Tòa án nhân dân Quận R, Thành phố Hồ Chí Minh như sauTuyên bố Hợp đồng thuê khách sạn và tài sản ngày 28 tháng 8 năm 2013 giữa ông Phan Văn Q và bà Trần Thị Y là vô bị đơn bà Trần Thị Y có trách nhiệm trả cho nguyên đơn ông Phan Văn Q số tiền thuê nhà còn thiếu là hai tỷ hai trăm hai mươi triệu đồng ngay khi án có hiệu lực pháp bên thi hành dưới sự giám sát của cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm trì quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 69/2016/QĐ- BPKCTT ngày 05/9/2016 của Tòa án nhân dân Quận R về việc “Cấm thực hiện hành vi xuất cảnh ra nước ngoài”.3. Án phí dân sự sơ thẩm Bị đơn bà Trần Thị Y phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch hai trăm ngìn đồng và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là bảy mươi sáu triệu bốn trăm nghìn đồng. Ông Phan Văn Q không phải chịu án phí. Hoàn lại cho ông Phan Văn Q số tiền tạm ứng án phí đã nộp hai trăm nghìn đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AE/2014/0005460 ngày 02/11/2015 và ba mươi triệu đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AE/2014/0005461 ngày 02/11/2015 của Chi cục thi hành án dân sự Quận R, Thành phố Hồ Chí phí Dân sự phúc thẩm Bị đơn bà Trần Thị Y phải chịu án phí Dân sự phúc thẩm ba trăm nghìn đồng, được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí ba trăm nghìn đồng đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 000788 ngày 25/7/2019 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận R, Thành phố Hồ Chí hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. “Em đang là sinh viên năm nhất. Hôm 20/6/2021 em có lên HN xem phòng trọ và đặt cọc luôn trong ngày hôm đấy. Tiền cọc là 3 triệu. Trong hợp đồng thuê nhà hạn 1 năm,ngày thuê từ 1/7/2021 đến 30/6/2022. Sau khi kí hợp đồng xong. E có nghe thông tin quanh đấy là chủ trọ ăn chặn tiền cọc và không rõ ràng vụ tiền điện. Tình hình là từ lúc kí hợp đồng đến giờ, em chưa lên đấy ở, hợp đồng cũng ghi là bắt đầu thuê từ 1/7/2021. Vậy giờ em bảo hủy hợp đồng với chủ trọ có được không ạ trong hợp đồng có nói nếu muốn chấm dứt hợp đồng phải báo trước ít nhất 30 ngày nếu không sẽ phải trả tiền phòng và tiền dịch vụ tháng tiếp theo? Và nếu như vậy em có bị tính là vi phạm hợp đồng không ạ, nếu có số tiền bọn em bị phạt sẽ là bao nhiêu?. Mong luật sư giải đáp thắc mắc giúp em sớm. Em cảm ơn.” Đơn phương chấm dứt hợp đồng đăt cọc thuê nhà ở. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi về cho chúng tôi, đối với trường hợp của bạn, chúng tôi xin đưa ra ý kiến tư vấn như sau Tranh chấp về hợp đồng đặt cọc là loại tranh chấp xảy ra một cách thường xuyên, đặc biệt là tranh chấp hợp đồng đặt cọc khi thuê nhà trọ. Trong trường hợp hai bên trong hợp đồng đặt cọc xảy ra tranh chấp thì sẽ được giải quyết ra sao? Về định nghĩa của loại hợp đồng này được quy định tại Điều 328 Bộ luật Dân sự 2015 là “việc một bên sau đây gọi là bên đặt cọc giao cho bên kia sau đây gọi là bên nhận đặt cọc một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác sau đây gọi chung là tài sản đặt cọc trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng”. Như vậy, hợp đồng đặt cọc là một sự bảo đảm cho việc giao kết hợp đồng khác liền sau đó hoặc thức hiện hợp đồng. Theo thông tin bạn cung cấp cho chúng tôi, bạn đã đặt cọc số tiền đồng. Hợp đồng thuê nhà hạn 1 năm,ngày thuê từ 1/7/2021 đến 30/6/2022. Vậy việc bạn đưa tiền thuê phòng cho chủ trọ là để đảm bảo việc sẽ ký hợp đồng thuê phòng Nhưng hiện nay bạn nghe thông tin quanh đấy là chủ trọ ăn chặn tiền cọc và không rõ ràng vụ tiền điện nên bạn muốn hủy hợp đồng. Khoản 2 Điều 328 Bộ luật Dân sự 2015 cũng quy định rõ Trường hợp hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc;”. Khi bạn không muốn ký hợp đồng thuê nhà nữa, vậy bạn sẽ phải mất luôn số tiền cọc là đồng trừ trường hợp bạn và chủ nhà có thỏa thuận khác. Để được tư vấn rõ hơn về vấn dề này, bạn có thể cung cấp cho chúng tôi thông tin về Hợp đồng đặt cọc bạn và chủ nhà đã ký kết. Bạn có thể tham khảo thêm về tranh chấp liên quan đến hợp đồng thuê nhà tại Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi đưa ra về vấn đề Đơn phương chấm dứt hợp đồng đăt cọc thuê nhà ở để bạn và quý vị tham khảo, hy vọng sẽ cung cấp được những thông tin hữu ích tới quý vị. Việc đưa ra ý kiến tư vấn về chi phí ly hôn nêu trên căn cứ vào thông tin bạn cung cấp và các quy định của pháp luật. Thông tin chúng tôi cung cấp nhằm gúp cá nhân, tổ chức tham khảo và không áp dụng tùy tiện. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý vị. Chuyên viên Hoài Linh Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi qua thông tin sau Luật sư PHẠM THỊ NHÀN ĐT 0909257165 CÔNG TY LUẬT CỘNG ĐỒNG VẠN TÍN + Website chuyên đất đai + Website chuyên ly hôn + youtube +Fanpage Ngay khi dịch Covid-19 gây ra những thiệt hại đầu tiên thì các luật gia cũng đã nhận ra nguy cơ tranh chấp dân sự sau đại dịch này rất lớn. Điển hình là các tranh chấp liên quan đến hợp đồng thuê nhà, khi mà nhiều cá nhân, doanh nghiệp đã mất khả năng thanh toán. Để hạn chế và giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng thuê tài sản. Luật sư tư vấn dân sự Công ty Luật chúng tôi sẽ hướng dẫn giải quyết tranh chấp hợp đồng thuê tài sản và một số điểm cần lưu ý khi giao kết hợp đồng thuê tài sản này. 1. Giải quyết tranh chấp hợp đồng thuê tài sản bằng cách nào? Trước khi giải quyết tranh chấp hợp đồng thuê tài sản, chúng tôi cần xác minh các nội dung sau + Xác minh tính pháp lý của hợp đồng thuê tài sản, xem xét đối chiếu lại toàn bộ chứng cứ do khách hàng cung cấp có đủ cơ sở pháp lý hay không. + Xác minh thông tin của Bên vi phạm hợp đồng thuê tài sản, nếu là tổ chức thì kiểm tra trên cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp về trình trạng hoạt động của doanh nghiệp, xác minh thông tin tại Sở kế hoạch và Đầu tư về thông tin của Doanh nghiệp đó. Nếu là cá nhân thì xác minh địa chỉ thường trú, chỗ ở hiện tại của họ. Qua quá trình xác minh hồ sơ nợ thấy hợp lệ và có căn cứ pháp lý để giải quyết tranh chấp, Công ty Luật chúng tôi sẽ hướng dẫn giải quyết tranh chấp hợp đồng thuê tài sản thông qua thỏa thuận thương lượng. Công ty Luật chúng tôi sẽ hỗ trợ khách hàng soạn thông báo về việc giải quyết tranh chấp hợp đồng thuê tài sản, các tài liệu chứng cứ kèm theo, tổng hợp căn cứ pháp lý, phương án giải quyết và ấn định thời gian để giải quyết, thông tin liên hệ cần thiết khi cần trao đổi. Trong thời gian này nếu bên vi phạm hợp đồng thuê tài sản có thiện chí hợp tác thì sẽ giải quyết theo thỏa thuận hợp đồng và bồi thường thiệt hại theo quy định pháp luật. Xem thêm Mẫu hợp đồng thuê tài sản 2. Khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng thuê tài sản Ngược lại trong thời gian khách hàng thông báo về việc giải quyết tranh chấp hợp đồng thuê tài sản, mà người vi phạm hợp đồng không có thiện chí giải quyết tranh chấp thì chúng tôi sẽ tiến hành những thủ tục pháp lý cần thiết khởi kiện ra Toà án như sau + Làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng thuê tài sản hoặc đề nghị Tòa án tuyên hợp đồng thuê tài sản vô hiệu. + Soạn thảo thông báo khởi kiện gửi đến bên vi phạm hợp đồng; + Nộp đơn khởi kiện; + Làm đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để tránh bên vi phạm hợp đồng tẩu tán tài sản. + Tham gia vụ kiện, trình bày ý kiến để bảo vệ quyền lợi của khách hàng ở cấp sơ thẩm và phúc thẩm khi có giấy triệu tập của tòa án; + Hướng dẫn làm đơn yêu cầu thi hành án khi có bản án có hiệu lực pháp luật. + Khách hàng phải tự chi trả các chi phí cho vụ kiện như án phí, phí, lệ phí khác nếu có. + Trong giai đoạn này, chúng tôi sẽ cử Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho khách hàng tại cơ quan tiến hành tố tụng. 3. Một số lưu ý khi giao kết hợp đồng thuê tài sản Như vậy, để hạn chế tranh chấp hợp đồng thuê tài sản. Các bạn cần lưu ý các vấn đề sau khi giao kết loại hợp đồng này như sau Hợp đồng cho thuê tài sản phải mô tả đúng với giấy chứng nhận quyền sở hữu Thứ nhất Trên thực tế có tồn tại tài sản như mô tả trong hợp đồng hay không; Thứ hai Tài sản đó phải thuộc quyền sở hữu/sử dụng hợp pháp của bên cho thuê, hoặc bên cho thuê có quyền được cho thuê tài sản đó. Thứ ba Tài sản cho thuê là tài sản chung hay tài sản riêng các trường hợp như tài sản đồng sở hữu, tài sản chung vợ/chồng, tài sản riêng do nhận tặng cho, nhận thừa kế Việc mô tả sai đối tượng có thể dẫn đến hậu quả là hợp đồng thuê tài sản sẽ bị vô hiệu nếu có tranh chấp xảy ra. Quy định về tình huống bất khả kháng Khi các bên giao kết hợp đồng thuê tài sản nhưng không quy định hoặc thiếu rõ ràng các tình huống bất khả kháng thì sẽ dẫn đến khả năng xảy ra tranh chấp sau này. Mặc dù Bộ luật Dân sự có đề cập đến vấn đề này, nếu có tranh chấp thì Tòa án có thể áp dụng để giải quyết tranh chấp hợp đồng thuê tài sản, nhưng nếu hợp đồng có quy định chi tiết hóa thì việc giải quyết hậu quả của tình huống bất khả kháng sẽ dễ dàng hơn nhiều. Hoặc các bên có thể tự giải quyết thông qua thỏa thuận mà không đẩy vụ việc thành một tranh chấp, từ đó giảm thiểu được những thiệt hại không đáng có. Cho thuê tài sản đang thế chấp mà chưa được sự đồng ý của bên nhận thế chấp Việc thế chấp không ảnh hưởng đến quyền cho thuê tài sản được quy định tại khoản 6, Điều 321 Bộ luật Dân sự 2015 “6. Được cho thuê, cho mượn tài sản thế chấp nhưng phải thông báo cho bên thuê, bên mượn biết về việc tài sản cho thuê, cho mượn đang được dùng để thế chấp và phải thông báo cho bên nhận thế chấp biết.” Mặc dù vậy, hầu hết các hợp đồng thế chấp đều có điều khoản quy định giới hạn một số quyền của chủ tài sản sau khi đã thế chấp. Phổ biến nhất là các quyền cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ, nhận đặt cọc … Vì vậy, nếu ký hợp đồng cho thuê tài sản mà không được sự đồng ý của bên nhận thế chấp thì hợp đồng cho thuê tài sản đó có thể bị tuyên bố vô hiệu. Đang cho thuê mà chủ nhà tự ý bán nhà Cần lưu ý đối với hợp đồng thuê tài sản có đối tượng là nhà ở. Đa phần người sở hữu nhà thường nghĩ rằng họ có quyền bán tài sản bất cứ khi nào mà không cần quan tâm hợp đồng cho thuê tài sản đã ký. Tuy nhiên, trong trường hợp này người thuê nhà có quyền lợi đặc biệt, đó là quyền ưu tiên mua lại nhà đang thuê. Được quy định tại khoản 1, Điều 127 Luật Nhà ở 2014 Bên thuê nhà ở sẽ được quyền ưu tiên mua nhà đang thuê nếu đã thanh toán đầy đủ tiền thuê nhà cho bên cho thuê tính đến thời điểm bên cho thuê có thông báo về việc bán nhà cho thuê. Vì vậy, nếu chủ nhà muốn bán nhà cho người khác thì phải thực hiện theo đúng trình tự luật định để bảo đảm quyền lợi của người thuê nhà. Nếu chủ nhà không thực hiện đúng thì không thể ký hợp đồng bán nhà. Như vậy, trên đây Công ty Luật chúng tôi đã hướng dẫn giải quyết tranh chấp hợp đồng thuê tài sản và một số điểm cần lưu ý khi giao kết hợp đồng thuê tài sản. Để nhận được sự hỗ trợ KỊP THỜI − TẬN TÂM − TRÁCH NHIỆM từ Luật sư tư vấn đất đai và các Chuyên gia pháp lý tại Công ty Luật của chúng tôi, Quý Khách hàng hãy liên hệ với chúng tôi qua các cách thức sau Liên hệ qua Hotline 094 221 7878 – Ls Trần Trọng Hiếu Trưởng CN là người trực tiếp tư vấn; 096 267 4244 – Ls Trần Trọng Hiếu Trưởng CN là người trực tiếp tư vấn. Liên hệ trực tiếp tại địa chỉ – Số 15 đường 21, phường Bình An, Quận 2, Tp. Hồ Chí Minh; – Số 60A đường 22, phường Phước Long B, Quận 9, Tp. Hồ Chí Minh. Liên hệ qua Zalo – Facebook Zalo 094 221 7878 – Facebook Saigon Law Office Liên hệ qua Email Saigonlaw68 Luatsutronghieu Rất mong nhận được sự hợp tác cùng Quý Khách Hàng! >> Danh sách văn phòng luật sư của chúng tôi - Văn phòng luật sư Nhà Bè - Văn phòng luật sư Bình Chánh - Văn phòng luật sư Long Thành Tranh chấp về tiền đặt cọc tiền thuê nhà Ngày đăng 30/01/2015 Xin hỏi Luật sư tư vấn về trường hợp thực tế như sau A thuê phòng của B chủ nhà, địa điểm thuê tại Bình Thạnh. Hai bên ký kết hợp đồng thuê nhà, thời hạn thuê là 1 năm từ 06/2013 - 05/2014. Theo hợp đồng thì A phải đặt cọc cho B số tiền của 1 tháng tiền thuê nhà trong suốt thời gian thuê tuy nhiên hợp đồng không ghi rõ điều khoản này mà chỉ ghi đặt cọc 1 tháng tiền thuê nhà. Ngoài ra, trên hợp đồng cũng không có điều khoản về việc xử lý tiền đặt cọc như thế nào cấn trừ vào tháng cuối cùng/trả lại cho bên thuê khi hết thời hạn thuê. Đến 05/2014 thì hết hạn hợp đồng, 2 bên thỏa thuận tiếp tục hợp đồng thỏa thuận bằng miệng, không làm phụ lục gia hạn thời hạn thuê. Và đến 01/2015 thì 2 bên chấm dứt hợp đồng, bên A đã thanh toán đầy đủ tiền thuê nhà tháng 01/2015 nhưng bên B không trả lại tiền đặt cọc cho bên A với lý do là tiền cọc đã cấn trừ vào tháng cuối cùng. Việc thanh toán tiền nhà hàng tháng được trả bằng tiền mặt không có xác nhận là bên B đã nhận đủ tiền/bên A đã thanh toán đầy đủ. Trong trường hợp trên thì bên A nhận lại tiền đặt cọc hay không? Và phải tiến hành những thủ tục gì? 7486 Cảm ơn Phản hồi Chủ đề đang được đánh giá Click vào bảng để xem hiển thị đầy đủ thông tin Bạn vui lòng đăng nhập hoặc Đăng ký tại đây để tham gia thảo luận Trong các giao dịch mua bán nhà ở nhằm đảm bảo được quyền và nghĩa vụ của các bên cũng như giao kết được thực hiện. Các bên đã thỏa thuận và lập hợp đồng đặt cọc. Thế nhưng, hiện nay việc tranh chấp hợp đồng đặt cọc mua bán nhà xảy ra vẫn rất phổ biến. Cùng Đo Vẽ Nhanh tìm hiểu sâu hơn về vấn đề này qua bài viết dưới đây nhé. Đặt cọc là gì?Những dạng tranh chấp hợp đồng đặt cọc mua bán nhà phổ biếnThứ nhất Tranh chấp về mức phạt cọcThứ hai Tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của các bên tranh chấp Thứ ba Tranh chấp về cam kết của các bênPhương thức giải quyết Thương lượngHòa giảiKhởi kiện tại Tòa Đặt cọc là gì? Theo quy định tại điều 328 của Bộ luật dân sự 2015, đặt cọc là việc 1 bên sau đây gọi là bên đặt cọc giao cho bên kia gọi là bên nhận đặt cọc 1 khoản tiền, đá quý, kim khí quý hoặc vật có giá trị khác tài sản đặt cọc trong một khoảng thời gian nhằm đảm bảo thực hiện hợp đồng. Bản chất của việc đặt cọc chính là một quy định nhằm đảm bảo thực hiện nghĩa vụ. Vì vậy khi mua nhà ở, đất hay thuê nhà,… hợp đồng đặt cọc được lập ra, việc đặt cọc bao nhiêu thông thường là do các bên thỏa thuận. Đặt cọc là việc bên đặt cọc giao cho bên nhận đặt cọc một khoản tiền, đá quý, kim khí quý hoặc vật có giá trị Trường hợp hợp đồng được giao kết và thực hiện, tài sản đặt cọc sẽ được hoàn trả cho bên đặt cọc hoặc trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền. Tuy nhiên, trường hợp 1 trong hai bên không thực hiện đúng, hoặc không thực hiện, dẫn tới tranh chấp hợp đồng đặt cọc mua bán nhà, đất,… Nếu như các bên không thỏa thuận được thì bắt buộc phải có sự can thiệp của pháp luật. Hiện nay, theo Bộ luật dân sự 2015, hợp đồng đặt cọc mua bán nhà không bắt buộc phải lập thành văn bản. Cũng như không bắt buộc phải công chứng chứng thực theo quy định của Luật nhà ở năm 2014, Luật Đất đai 2013. Tuy nhiên, để tránh các tranh chấp hoặc rủi ro xảy ra thì các bên nên lập thành văn bản và công chứng chứng thực. Hợp đồng đặt cọc mua bán nhà không bắt buộc phải công chứng, chứng thực Tranh chấp hợp đồng đặt cọc mua bán nhà thường được thể hiện dưới những dạng như sau Thứ nhất Tranh chấp về mức phạt cọc Căn cứ vào khoản 2 điều 328 của Bộ luật dân sự 2015 nếu như các bên không có thỏa thuận khác về mức phạt cọc, thì được thực hiện như sau Nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng, tài sản đặt cọc thường là tiền đặt cọc sẽ thuộc về bên nhận đặt cọc. Trường hợp bên nhận đặt cọc từ chối thực hiện hợp đồng thì phải có nghĩa vụ trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc phạt cọc. Mức phạt cọc có thể do hai bên thỏa thuận Nếu như các bên có thỏa thuận khác về mức phạt cọc như phạt gấp đôi, gấp ba lần tiền cọc thì thực hiện theo thỏa thuận đã ghi trên hợp đồng. Thứ hai Tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của các bên tranh chấp Đây chính là dạng tranh chấp nội dung điều khoản quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng. Thứ ba Tranh chấp về cam kết của các bên Khi đặt cọc, người sử dụng đất hay chủ sở hữu nhà ở sẽ cam kết tính pháp lý của quyền sử dụng đất, nhà ở. Nhà đất hiện không có tranh chấp, không bị kê biên để đảm bảo thi hành án, không bị thế chấp và còn trong thời hạn sử dụng đất. Tuy nhiên, có nhiều trường hợp bên nhận đặt cọc lừa dối, không nói đúng sự thật, dẫn tới xảy ra các tranh chấp. Hợp đồng đặt cọc vô hiệu khi giả tạo Phương thức giải quyết Khi xảy ra tranh chấp chúng ta thường áp dụng ba cách giải quyết như sau Thương lượng Đây là biện pháp được nhà nước khuyến khích các bên thực hiện khi có tranh chấp xảy ra. Theo đó, các bên tự mình bàn bạc và tháo gỡ những bất đồng, mâu thuẫn. Thương lượng là cách giải quyết tranh chấp đơn giản, không mất nhiều thời gian, tiền bạc mà vẫn giữ được tình cảm đôi bên. Phương thức thương lượng được ưu tiên hàng đầu Hòa giải Là phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng đặt cọc có sự tham gia của bên thứ ba làm trung gian hòa giải nhằm hỗ trợ, thuyết phục và giải thích cho các bên. Bên thứ ba có thể là người am hiểu về luật pháp, có uy tin cao hoặc thông qua hòa giải viên cơ sở. Khởi kiện tại Tòa Đây là phương pháp giải quyết tranh chấp dựa trên thủ tục tố tụng dân sự thông qua tòa án. Kết quả giải quyết sẽ được đảm bảo thi hành án bởi cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, khi lựa chọn cách này, bạn sẽ phải nộp tiền tạm ứng phí, án phí, tốn nhiều thời gian và công sức. Quá trình khởi kiện phức tạp và tốn nhiều thời gian, công sức Có thể bạn cần biết Mẫu biên bản hòa giải tranh chấp đất đai chuẩn nhất 2022 Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và quy định cụ thể Quy định pháp luật trong giải quyết tranh chấp đất đai giữa anh em ruột Trên đây là toàn bộ thông tin liên quan tới tranh chấp hợp đồng đặt cọc mua bán nhà mà bạn có thể tham khảo. Mong rằng, bài viết đã giúp bạn nắm rõ được các quy định của pháp luật về đặt cọc và một số cách giải quyết khi phát sinh những tranh chấp. Phan Nguyên Việt sinh năm 1985 tại Phú Yên. Tốt nghiệp đại học bách khoa chuyên ngành trắc địa bản đồ thuộc khoa xây dựng niên khóa 2003- 2008. Tôi khởi nghiệp thương hiệu thuộc sở hữu công ty TNHH Hợp Nhất Bách Việt chuyên cung cấp dịch vụ đo đạc địa chính và khảo sát địa hình.

tranh chấp tiền đặt cọc thuê nhà